Khoảng 10 đến 15% trẻ sơ sinh bị nhiễm CMV trong tử cung có các biến chứng nghiêm trọng xảy ra khi sinh, như chứng bất thường của hệ thống thần kinh trung ương, hạn chế tăng trưởng, đầu nhỏ bất thường, lá lách to và gan to, vàng da và phát ban do chảy máu dưới da. Một số em bé tử vong. Viêm phổi Mất thính giác Trẻ sơ sinh nhiễm CMV lúc sinh hoặc sau sinh có thể mắc hội chứng giống nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, gan lách to, viêm gan (dẫn tới suy gan), xuất huyết giảm tiểu cầu và tăng lympho bào không điển hình. Tuy nhiên trẻ nhiễm CMV từ mẹ qua sữa thì nguy cơ bệnh biểu hiện nặng và di chứng lâu dài sẽ thấp hơn. Khi mang thai, nhiễm CMV ở mẹ hoặc nhiễm CMV từ trước có thể tái phát, dẫn đến nhiễm trùng bẩm sinh ở em bé. Thống kê cho thấy, có tới 10% trẻ sơ sinh bị nhiễm cmv bẩm sinh bị chậm phát triển trí tuệ và bất thường về thính giác. Nhiễm khuẩn huyết có thể gặp ở mọi trẻ em, nhất là trên thể trạng của trẻ có tổn thương ngoài da như viêm da, mụn nhọt, viêm răng lợi, các ổ áp-xe, viêm phổi, tiêu chảy do vi khuẩn đường ruột, viêm màng não mủ…. Nguy cơ bệnh thường gặp nhiều ở trẻ chưa được TỔNG QUANTỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌCĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC Khi đã bị nhiễm, người đó có thể mang CMV suốt đời.Khi đã bị nhiễm, người đó có thể mang CMV suốt đời. Nhiễm virus này thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn.Nhiễm virus này thường tồn tại dưới Vay Tiền Nhanh. TTO - Gần đây, Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ sơ sinh bị nhiễm virút CMV cytomegalovirus, hầu hết đều gây biến chứng nặng. Bác sĩ Hà Anh Tuấn - trưởng khoa hồi sức tích cực và chống độc Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ - cảnh báo gần đây bệnh viện tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ sơ sinh bị nhiễm bệnh do virút CMV cytomegalovirus, đặc biệt hầu hết đều là những biến chứng nặng nề trong khi trước đây bệnh rất hiếm gặp. Bé Võ Hoài Bảo N. 6 tháng tuổi, nhập viện tại khoa trong trạng thái lơ mơ, vàng da vàng mắt, thể trạng suy kiệt. Qua thăm khám và làm các xét nghiệm phát hiện bé viêm gan do virút CMV. Theo gia đình, bé bị vàng da từ lúc mới sinh, nằm viện điều trị hơn hai tháng, tái khám định kỳ nhưng tình trạng vẫn không cải thiện. Sau thời gian điều trị tình trạng vẫn không giảm, các chức năng gan thận đều suy và bé đã tử vong. Bệnh nhân thứ hai là bé Võ Lê Nhã T. 36 ngày tuổi, nhập viện vì sốt và thở nhanh, tiền sử bé sinh non khoảng 33 tuần tuổi. Sau khi thăm khám, các bác sĩ đã cho làm xét nghiệm CMV, siêu âm tim, chụp X-quang phổi. Kết quả bé được chẩn đoán bị viêm phổi/tim bẩm sinh thông liên thất, còn ống động mạch và kết quả dương tính với virút CMV. Hiện tại tình trạng bệnh nhân rất nặng. Một bé sơ sinh khác là bé Phan Ngọc V. 35 ngày tuổi, vào viện trong tình trạng thở rên, môi tái, da nổi bông… sau khi được cấp cứu hồi sức kịp thời đã qua cơn nguy kịch. Bác sĩ đã nghi ngờ và cho làm xét nghiệm CMV, kết quả kết quả dương tính CMV/tim bẩm sinh nên tình trạng bệnh cũng khá nặng. Bác sĩ Hà Anh Tuấn nói theo y văn, CMV cytomegalovirus là loại siêu vi gây bệnh cho người ở các lứa tuổi khác nhau, từ trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, phụ nữ mang thai, người lớn, người nhiễm HIV và cả người được ghép tạng. Siêu vi này được tìm thấy trong máu, nước bọt, phân, nước tiểu và cả trong dịch tiết sinh dục. Một khi CMV xâm nhập vào người có thể tồn tại lâu dài, thậm chí suốt đời trong cơ thể người bị nhiễm. Tuy nhiên ở người lớn, phần lớn người khỏe mạnh bị nhiễm CMV thường không thể hiện triệu chứng lâm sàng nào mà có thể có các triệu chứng giống cúm như sốt, đau đầu, mệt mỏi, tăng bạch cầu đơn nhân, giảm bạch cầu đa nhân trung tính. Khoảng 80% người lớn tạo được kháng thể chống CMV. Phụ nữ khi mang thai nếu nhiễm CMV có thể sinh ra trẻ dị tật, nhất là tim bẩm sinh. Đối với trẻ em bị nhiễm CMV phần lớn cũng không thể hiện triệu chứng lâm sàng, khoảng 10% số trẻ bị nhiễm CMV có thể có các triệu chứng lâm sàng nặng nề như dị tật đầu nhỏ, gan và lách to, vàng da, có các cơn động kinh, bệnh lý tim bẩm sinh và thiếu cân. Phòng bệnh bằng các biện pháp vệ sinh chung Hiện tại không có văcxin và liệu pháp đặc hiệu cho bệnh nhiễm CMV. Tốt nhất chúng ta dùng biện pháp phòng bệnh nhiễm CMV bằng các biện pháp vệ sinh chung, đặc biệt cần chú ý đến phụ nữ có thai và đang cho con bú. Việc nhiễm CMV thường lan rộng là do tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết của người đang bị nhiễm CMV như nước bọt, nước tiểu, phân, tinh dịch, máu, nước mắt, dịch âm đạo và sữa. Trong quá trình có thai, thai nhi có thể bị nhiễm từ người mẹ đang nhiễm CMV qua đường nhau thai, hoặc qua các dịch tiết và máu trong quá trình sinh đẻ, trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm qua sữa của quá trình bú mẹ. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao Citomegalovírus CMV, human herpesvirus type 5 pode causar infecções que têm uma ampla extensão de gravidade. Uma síndrome de mononucleose infecciosa que não apresenta faringite grave é comum. Doença focal grave, incluindo retinite, pode se desenvolver em pacientes infectados pelo HIV e em receptores de transplante de órgãos e outros pacientes imunocomprometidos. Doença sistêmica grave pode se desenvolver em recém-nascidos e pacientes imunocomprometidos. O diagnóstico de laboratório, útil para doença grave, pode ser feito com cultura, sorologia, biópsia ou detecção de antígeno ou ácido nucleico. Ganciclovir e outros fármacos antivirais são usados para tratar a doença grave, em particular CMV vírus da herpes humana do tipo 5 é transmitido por sangue, líquidos corporais ou transplante de órgãos. A infecção pode ser adquirida por via transplacentária ou durante o prevalência aumenta com a idade; 60 a 90% dos adultos têm infecção por CMV resultando em infecção latente por toda a vida. Grupos socioeconômicos inferiores tendem a apresentar uma prevalência mais adquiridas com frequência são síndrome pós-perfusão/pós-transfusão pode se desenvolver em 2 a 4 semanas após a transfusão com hemoderivados contendo CMV. Ela causa febre que dura 2 a 3 semanas e as mesmas manifestações da mononucleose por CMV. Detecção de antígeno ou DNA do CMVCultura de urina em lactentesAlgumas vezes, biópsia nos pacientes imunocomprometidosExames sorológicosHá suspeita de infecção por CMV em Pessoas saudáveis com síndromes semelhantes à mononucleosePacientes imunocomprometidos com sintomas gastrintestinais, no sistema nervoso central ou na retinaRecém-nascidos com doença sistêmicaPode-se demonstrar soroconversão pela produção de anticorpos contra o CMV e indica nova infecção pelo vírus. Mas boa parte das doenças por CMV resulta da reativação da doença latente no hospedeiro imunocomprometido. A reativação do CMV pode resultar em vírus na urina, em outras secreções do organismo ou em tecidos, mas a presença de CVM nos líquidos corporais e tecidos nem sempre indica doença e pode apenas representar transmissão. Portanto, a biópsia mostrando doença induzida por CMV costuma ser, geralmente, necessária para indicar doença invasiva. A detecção quantitativa de antígenos do CMV ou DNA no sangue periférico também pode ser muito útil porque uma carga viral do CMV elevada ou em ascensão são, algumas vezes, bons indicativos de doença fazer o diagnóstico da infecção por CMV em lactentes por cultura de urina. Para doenças graves, antivirais p. ex., ganciclovir, valganciclovir, foscarnet, cidofovirA retinite por CMV, que ocorre principalmente em pacientes com aids, é tratada com antivirais anti-CMV são empregados para tratar doenças graves diferentes da retinite, mas são consistentemente menos eficazes do que na retinite. Os fármacos usados para tratar a retinite por CMV em esquemas de indução e manutenção são Ganciclovir ou valganciclovirFoscarnet, com ou sem ganciclovirCidofovirA maioria dos pacientes assintomáticos recebe terapia de indução com qualquer um dos seguintes Ganciclovir, 5 mg/kg, IV a cada 12 h, por 2 a 3 semanasValganciclovir 900 mg por via oral a cada 12 h por 21 diasSe a indução falhar mais de uma vez, outro fármaco deve ser terapia de manutenção supressora com um dos seguintes após a indução Ganciclovir, 5 mg/kg, IV uma vez ao diaValganciclovir, 900 mg por via oral uma vez ao diaAlternativamente, foscarnet pode ser administrado com ou sem ganciclovir. A dosagem é Indução foscarnete, 60 mg/kg, IV a cada 8 h, por 2 a 3 semanasManutenção foscarnete, 90 a 120 mg/kg, IV uma vez ao diaEventos adversos do foscarnet intravenoso são significantes e incluem nefrotoxicicidade, hipocalcemia sintomática, hipomagnesemia, hiperfosfatemia, hipopotassemia e efeitos no sistema nervoso central. A terapia combinada de ganciclovir e foscarnet aumenta a eficácia e os efeitos com cidofovir é outra alternativa; consiste em Indução cidofovir, 5 mg/kg, IV 1 vez/semana durante 2 semanasManutenção cidofovir, 5 mg/kg, IV 1 vez a cada duas semanasA eficácia do cidofovir é similar à do ganciclovir ou foscarnete. Efeitos adversos significativos, incluindo insuficiência renal, limitam seu uso. Cidofovir pode causar irite ou hipotonia ocular pressão intraocular ≤ 5 mmHg. Para reduzir potencial nefrotoxicidade, devem ser fornecidos a cada dose probenecida e pré-hidratação. Porém, os efeitos adversos da probenecida, inclusive exantema, cefaleia e febre, podem ser significantes o bastante para impedir seu usar a terapia antiviral intravítrea em combinação com a terapia sistêmica para pacientes com retinite por CMV que ameaça imediatamente a visão isto é, doença envolvendo ou perto do nervo óptico ou da mácula. Até mesmo pacientes que recebem injeções oculares precisam de terapia sistêmica para prevenir CMV no olho contralateral e em tecidos extraoculares. Profilaxia ou tratamento preventivo monitoramento ativo da carga viral dos pacientes e administração de antivirais para aqueles com evidências de infecção é eficaz para a prevenção da doença por CMV em órgão sólido ou receptores de transplante de células hematopoiéticas infectados por CMV e com risco de doença por CMV. Os fármacos utilizados incluem ganciclovir, valganciclovir e foscarnet. O letermovir é um agente mais moderno, com um novo mecanismo de ação que pode ser utilizado para profilaxia no transplante de medula óssea. Pode-se considerar a globulina hiperimune de CMV de modo a prevenir a infecção por CMV em receptores de transplante, mas isso é controverso. Sessenta a 90% dos adultos têm infecção latente por e adultos saudáveis podem ter sintomas inespecíficos e leves ou, às vezes, síndrome semelhante à mononucleose quando infectados pela primeira vez por infecção congênita pode causar morte fetal ou algumas vezes complicações pós-natais fatais, incluindo comprometimento hepático extenso ou do sistema nervoso gravemente imunocomprometidos podem ter doença grave comprometendo a retina, os pulmões, o trato gastrintestinal ou o sistema nervoso podem ajudar a tratar a retinite, mas são menos eficazes quando outros órgãos são transplantados com risco de infecção por CMV requerem antivirais profiláticos ou monitoramento atento quanto aos indícios precoces de infecção. Visão Educação para o paciente OBS. Esta é a versão para profissionais. CONSUMIDORES VISUALIZAR A VERSÃO SAÚDE PARA A FAMÍLIA Direitos autorais © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, EUA e suas afiliadas. Todos os direitos reservados. Nguyên nhân thường gặp của giảm thính lực thường do dị tật bẩm sinh và nhiễm khuẩn tai và dáy tai ở trẻ em. Nhiều trường hợp được phát hiện qua sàng lọc, tuy nhiên cần phải nghi ngờ trẻ giảm thính lực nếu trẻ không phản xạ lại với âm thanh hoặc chậm nói. Chẩn đoán thường dựa vào test điện thần kinh cơ test kích thích tai trong EOET và đáp ứng của trung tâm nghe trên thân não ở trẻ sơ sinh, khám lâm sàng và đo nhĩ lượng ở trẻ em. Điều trị mất thính lực không hồi phục có thể dùng máy trợ thính hoặc cấy ốc tai điện tử. Ở Mỹ, tình trạng giảm thính lực ở trẻ em được phát hiện trung bình ở 1,1/1000 trẻ sơ sinh được sàng lọc. Trung bình, có khoảng 1,9% trẻ "nghe có vấn đề". Khiếm thính ở trẻ nam nhiều hơn một chút so với trẻ nữ; tỷ lệ nam/nữ trung bình là 1,241. Nguyên nhân phổ biến nhất gây nên tình trạng giảm thính lực ở trẻ sơ sinh là Các yếu tố nguy cơ về giảm thính lực ở trẻ sơ sinh bao gồm Trọng lượng khi sinh thấp ví dụ, 2 tuổi, đánh giá khả năng làm việc theo đơn giản lệnh, cũng như phản ứng với âm thanh bằng tai của trẻ. Đánh giá khả năng xử lý của trung tâm thính giác Xét nghiệm có thể được sử dụng cho trẻ > 7 tuổi mà nhận thức của trẻ bình thường, nhưng trẻ nghe mà không hiểu. Chẩn đoán hình ảnh thường được chỉ định để xác định nguyên nhân và tiên lượng bệnh. Đối với hầu hết các trường hợp, bao gồm cả khi khám thần kinh không bình thường, nhận dạng từ kém, và/hoặc giảm thính lực không đối xứng, cần chụp MRI tiêm thuốc cản quang. Nếu nghi ngờ bất thường về xương, chụp CT scan. 1. US Preventive Services Task Force Universal screening for hearing loss in newborns US Preventive Services Task Force recommendation statement. Pediatrics 1221143–148, 2008. doi Sử dụng thiết bị trợ thính hoặc cấy ốc tai cho trường hợp mất giảm thính lực không hồi phụcĐôi khi dạy ngôn ngữ không có tiếng cho trẻ Các trường hợp giảm thích lực có thể hồi phục sẽ được chữa trị. Đại dịch COVID-19 yêu cầu các chuyên gia thính giác phát triển các cách theo dõi và tương tác từ xa với trẻ khiếm thính. Một số phương pháp này, ví dụ, theo dõi và lập trình từ xa các thiết bị và kỹ thuật trị liệu ngôn ngữ trực tuyến hoặc trong ứng dụng, có thể vẫn hữu ích cho bệnh nhân ngay cả sau khi các hạn chế về đại dịch được dỡ bỏ. 1. Brotto D, Sorrentino F, Favaretto N, et al Pediatric hearing loss management in the COVID-19 era Possible consequences and resources for the next future. Otolaryngol Head Neck Surg 1662217–218, 2021. doi Marom T, Pitaro J, Shah UK, et al Otitis media practice during the COVID-19 pandemic. Front Cell Infect Microbiol 11749911, 2022. doi Nguyên nhân phổ biến của nghe kém ở trẻ sơ sinh là nhiễm cytomegalovirus hoặc các khuyết tật di truyền và ở trẻ nhỏ và trẻ lớn là do tích tụ ráy tai và do dịch trong tai ngờ giảm thính lực nếu đáp ứng đối với âm thanh hoặc sự phát triển về lời nói và ngôn ngữ của trẻ bất lọc sơ sinh cho trẻ, bắt đầu bằng test kích thích tai trong đoán dựa vào khám lâm sàng và kết quả đo nhĩ lượng trị giảm thính lực không hồi phục bằng máy trợ thính hoặc cấy ốc tai và hỗ trợ ngôn ngữ ví dụ, giảng dạy ngôn ngữ ký hiệu nếu cần. Bài viết được viết bởi Ma Văn Thấm - Bác sĩ Nội Nhi, Khoa Nhi - Sơ sinh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc. CMV là một trong những nguyên nhân gây viêm phổi kéo dài và tổn thương nặng nề ở phổi đặc biệt ở những trẻ suy giảm miễn dịch. Bệnh này có thể được quan sát thấy trong các trường hợp nhiễm HIV, bệnh ác tính, suy giảm miễn dịch bẩm sinh, cấy ghép tạng hoặc tủy xương. 6. Chẩn đoán huyết thanh học Thử nghiệm trung hòa, miễn dịch huỳnh quang tìm kháng thể rất hữu ích trong chẩn đoán các trường hợp nhiễm trùng bẩm sinh nhưng không có biểu hiện lâm thể đặc hiệu chống CMV là IgM và IgG. Kháng thể có trong sữa mẹ không ngăn chặn được sự lây truyền từ mẹ sang con và hạn chế được sự trầm trọng của nhiễm CMV thì mang IgG dương tính suốt đời. 7. Sinh thiết phổi, hình ảnh giải phẫu bệnh Cần thiết để chẩn đoán xác định viêm phổi do ảnh giải phẫu bệnh tổn thương phổi có các tế bào phế nang khổng lồ với hình ảnh hạt vùi bào tương và hạt vùi CMV trong nhân với vòng sáng quanh nhân tạo ra hình ảnh giống mắt cú cùng với xét nghiệm PCR CMV dương tính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm phổi do CMV. Sinh thiết tế bào phổi tổn thương do nhiễm CMV 8. Xét nghiệm phân tử Phản ứng dây chuyền polymerase PCR. III. CHẨN ĐOÁN Có dấu hiệu viêm phổi theo tiêu chuẩn của WHO. Dựa vào triệu chứng lâm sàng không rất khó xác định, mà chủ yếu dựa vào cận lâm sàngCMV được phát hiện trên nuôi cấy nguyên bào sợi ở thanh học và thử nghiệm kháng và phân tích tế bào học. 1. Chẩn đoán trực tiếp CMV được đào thải qua nước bọt, nước tiểu chất dịch phế quản nhiều tháng sau khi bi bệnh. phân lập virus bằng cách lấy bệnh phẩm và tổ chức xơ non ở người có nhiều phương phápXác định kháng nguyên huỳnh quang sớm Bệnh phẩm nuôi cấy tế bào sau một đêm ủ cho phản ứng với kháng thể đơn dòng chống lại Cytomegalovirus gắn với huỳnh định kháng nguyên bạch cầu Các tế bào đơn nhân từ máu ngoại vi được tách ly tâm rồi nhuộm với kháng thể đơn dòng gắn enzyme hoặc huỳnh định ADN của virus Trong bệnh phẩm máu,dịch hầu họng, dịch phế quản bằng phản ứng khuếch đại chuỗi gen PCR.+ Phản ứng khuếch đại chuỗi PCR PCR là một kỹ thuật phổ biến trong sinh học phân tử nhằm khuếch đại tạo ra nhiều bản sao một đoạn DNA mà không cần sử dụng các sinh vật sống như hay nấm CMV hiện nay là phương pháp có giá trị nhất trong chẩn đoán nhiễm CMV. Demmler G. J, G. J. Buffone nghiên cứu thấy PCR-CMV trong nước tiểu có độ nhạy là 93% và độ đặc hiệu là 100% khi chẩn đoán nhiễm CMV bẩm được thực hiện trên phương pháp Real-time PCR, tùy theo phương pháp chạy, kết quả có thể cho ta biết trong mẫu bệnh phẩm có DNA của CMV không định tính hoặc có bao nhiêu phân tử DNA-CMV trong mẫu đó định lượng, tuy nhiên giá trị này là bao nhiêu thì có biểu hiện lâm sàng hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu kỹ. PCR-CMV sẽ cho kết quả dương tính khi có >100 copies/mm3 phổi do CMV khi tải trọng virus từ 5000cospis/ml ở bệnh nhân không thuộc nhóm suy giảm miễn dịch. Chẩn đoán trực tiếp bằng cách xác định kháng nguyên huỳnh quang 2. Chẩn đoán dựa vào huyết thanh Nhiều kỹ thuật huyết thanh học dùng để xác định kháng thể kháng Cytomegalovirus trong huyết thanh bệnh nhân. Kháng thể lớp IgM được xác định bằng miễn dịch liên kết enzyme hoặc miễn dịch huỳnh quang; kháng thể IgG xác định bằng kỹ thuật ELISA hoặc thử nghiệm ngưng kết hồng cầu thụ động. 3. Chẩn đoán phân biệt Viêm phổi do các loại virus các vi khuẩn hay gặp trong viêm phổi do phổi phổi do mycobacteria. IV. ĐIỀU TRỊ Thuốc kháng virus cùng các biện pháp khácNâng cao thể trạng, tăng cường miễn dịch và chống các rối loạn nước, điện giải. Các biện pháp cụ thể như sau+ Tăng cường dinh dưỡng+ Phòng chống bội nhiễm, tiêu chảy, rối loạn nước điện giải+ Tăng cường miễn dịch bằng biện pháp thay thế để dự phòng nhiễm khuẩn cho những người bị các bệnh thiếu hụt IgG và các kháng thể IGIM Globulin miễn dịch khởi đầu là 1,2 ml/kg. Sau đó dùng liều duy trì 0,6 ml/kg ít nhất là 100 mg/kg cách 2 - 4 tuần tiêm 1 lần; một vài người có thể cần phải tiêm nhiều lần hơn khoảng cách thời gian ngắn hơn. Liều duy nhất tối đa là 30 - 50 ml cho người lớn và 20 - 30 ml cho trẻ em và trẻ nhỏ. Điều trị viêm phổi do CMV cần tuân thủ theo phác đồ điều trị 1. Các thuốc đã được sử dụng và nghiên cứu trong điều trị Ganciclovir biệt dược Cymevene 500mgĐiều trị viêm phổi CMV chủ yếu hiện nay là GanciclovirGanciclovir biệt dược Cymevene 500mgBản chất là một dẫn chất của Guanosine có hoạt tính chống lại CMV mạnh hơn rõ rệt so với hoạt chất cũng nhóm là ACYCLOVIR. Ganciclovir là một đồng phân nucleoside có thể ức chế tổng hợp DNA giống acyclovir .điểm khác biệt CMV không chứa một thymidine dụng Ganciclovir có hoạt tính chống lại CMV, HSV, VZV, HHV-6, HHV-7, HHV-8, tuy nhiên các đồng phân khác của nó có tác dụng ưu thế điều trị VZV và Herpes dụng không mong muốn ộc tính lâm sàng của ganciclovir là có sốt, phát ban, tiêu chảy, xuất huyết giảm bạch cầu hạt, thiếu máu 20 - 25%, giảm tiểu cầu 6%, giảm bạch cầu trung tính 5% nếu uống, 14% nếu tiêm.Giảm bạch cầu trung tính có thể xuất hiện ở tuần đầu hoặc tuần thứ 2 sau khi điều trị bằng Ganciclovir. Người bệnh AIDS có nguy cơ giảm bạch cầu trung tính nhiều hơn so với người bệnh bị suy giảm miễn dịch khác. Người bệnh suy giảm miễn dịch do thuốc có nhiều nguy cơ bị giảm tiểu cầu hơn người bệnh AIDS. Giảm bạch cầu thông qua giảm liều và hoặc thêm các yếu tố phát cáo khi sử dụng không nên bắt đầu điều trị nếu số lượng bạch cầu trung tính dưới 500 tế bào /ul hoặc Hb dưới 8g/dlĐường dùng - liều dùng Dùng bằng đường truyền tĩnh mạch là dùng đường uống có nồng độ trong huyết thanh thấp hơn gấp 5-10 lần đường tĩnh mạch; nếu tiêm bắp hoặc tiêm dưới da, mô sẽ bị kích ứng nặng vì pH của ganciclovir cao khoảng 11. Phải truyền tĩnh mạch chậm với tốc độ hằng định trong ít nhất 1 giờ, dùng dung dịch có nồng độ không quá 10 mg/ml, và người bệnh cần được cung cấp nước đầy đủ để tránh tăng độc tính. Dùng thiết bị tiêm truyền có màng lọc với lỗ xốp 0,22 - 5 micromet. Thuốc viên ganciclovir phải uống vào bữa truyền tĩnh mạch chậm trong 1 giờ 5 mg/kg/ngày, 1 lần/ngày, dùng trong 7 ngày/tuần hoặc 6 mg/kg/ngày, dùng 5 ngày/tuần. Uống được chấp nhận dùng điều trị viêm võng mạc mắt 1000 mg, 3 lần/ngày, uống vào bữa ăn hoặc 500 mg/lần, 6 lần/ngày, cách nhau 3 giờ/lần, cùng với thức dõi trong điều trị- Tình trạng lâm sàng của bệnh nhân để nên tiếp tục điều trị hay dừng Công thức máu bạch cầu, tiểu cầu* Hiện nay đề kháng với Ganciclovir rất ít, chưa có nhiều nghiên cứu về nó. kháng Ganciclovir do đột biến UL97,UL54. ValganciclovirĐiều trị bằng ValganciclovirValganciclovir là một “prodrug” của Ganciclovir hoạt hóa trong ruột và trong gan đối với Ganciclovir;Valganciclovir có sinh khả dụng là 60%. Valganciclovir 900 mg dùng đường uống 1 lần./ngày tương đương 1 lần/ ngày đường tĩnh mạch Ganciclovir 5 mg/kg;Một nghiên cứu phân tích tổng hợp meta-analysis chỉ ra hiệu lực tương đương giữa 900 mg valganciclovir và 450mg trong điều trị dự phòng nhiễm CMV trên các bệnh nhân ghép tạng, dù liều 900 mg mỗi ngày có liên quan tăng nguy cơ gấp 3 lần giảm bạch cầu và 2 lần tăng nguy cơ thải ghép tạng;Valganciclovir được dùng để điều trị các trường hợp CMV chọn lọc. Hầu hết kinh nghiệm coh thấy trên những người ghép tụy và thận và bệnh nhân HIV/AIDS có viêm võng mạc do CMV đã được thiết lập điều trị;Thuốc cũng được dùng điều trị trước tiên hoặc phổ cập dự phòng CMV;Tỷ lệ lọc cầu thận glomerular filtration rate_GFR < 10 là một chống chỉ định dùng Valganciclovir use. Hình ảnh thuốc Valganciclovir được sử dụng trong điều trị viêm phổi do CMV FoscarnetBản chất Foscarnetnatri phosphonofomat là một chất ức chế chuỗi DNA của quá trình phosphoryl hóa. Thuốc được dùng để điều trị HSV kháng thuốc và các virus kháng với Ganciclovir. Đây là một thuốc điều trị virus có hiệu quả;Thận trọng Trên các bệnh nhân có vấn đề về chức năng thận. Các thay đổi nhỏ trong nồng độ creatinine đòi hỏi tính toán lại hệ số thanh thải thận. Foscarnet là một chất gây độc cho thận,bệnh nhân phải bổ sung dụng không mong muốn Foscarnet có thể gây chuyển hóa calcium và phosphorus. Các tác dụng ngoại ý khác gồm độc cho thận, thiếu máu, nhức đầu và buồn nôn. Thuốc có thể gây một phản ứng thuốc cố định trên dương dõi trong điều trịChức năng thức không đòi hỏi quá trình phosphoryl hóa nội bào. Kháng thuốc Foscarnet là thứ phát đối với các đột biến của quá trình tổng hợp chuỗi DNA tại codon CidofovirCidofovir là một nucleotide ức chế sự sao chép DNA;Thuốc có hiệu quả chống lại nhiều loại virus, thuốc cũng được dùng điều trị viêm võng mạc do CMV khó trị trên các bệnh nhân nhiễm HIV;Kháng thuốc Ganciclovir không cần thiết sử dụng đến Cidofovir;Các bệnh nhân phải bù nước và thuốc phải chỉ định với probenecid để bảo vệ ống thận; Liều lượng thuốc kháng virus trong điều trị nhiễm và bệnh lý do CMV V. TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG Với nhóm bệnh nhân suy giảm miễn dịch, CMV gây nhiễm trùng kéo dài và điều trị khó khănNguy cơ tái lại cao, nhiễm đi nhiễm lại nhiều lần có thể gây tử vong ở nhóm bệnh bệnh nhân không suy giảm miễn dịch, sau khi điều trị khỏi đợt cấp, trẻ có thể trở lại bình thường. Tiên lượng tốt trong nhóm bệnh nhân này. CMV có thể gây tình trạng nhiễm trùng kéo dài cho trẻ VI. PHÒNG BỆNH Hiện vẫn chưa có vắc-xin dự phòng CMV trên người. Các nghiên cứu mới đến pha 2, pha sử dụng thử nghiệm trên động lọc kỹ máu trước khi truyền máu, sàng lọc tủy xương tạng ghép trước khi đưa vào người bị bệnh thể vùi tế bào khổng lồ thải virus qua nước tiểu phải cách ly với những trẻ thể sử dụng CMV - globulin miễn dịch tiêm để hạn chế bớt các trường hợp nhiễm khi ghép tạng hoặc dự phòng nhiễm cho các bé có mẹ nhiễm tiên phát CMV trong lúc mang thai. Acyclovir hay valacyclovir có thể hạn chế bớt sự lây nhiễm CMV cho người nhận tạng ghép. Dự phòng cho những trẻ suy giảm miễn dịch do các nguyên nhân bị nhiễm CMV như ở bảng trong mục điều trị LUẬNTỉ lệ nhiễm CMV trên thế giới chiếm tỉ lệ khá lớn không biểu hiện triệu chứng lâm sàng trên người khỏe mạnh nhưng CMV là nguyên nhân gây ra viêm phổi nặng nề ở trẻ em Nếu không được điều trị tốt có nguy cơ tử vong cao,nhất là trên nhóm trẻ suy giảm miễn dịch,và cả những trẻ không thuộc nhóm chẩn đoán trên lâm sàng rất khó phân biệt với các loại nguyên nhân khác,chủ yếu được chẩn đoán xác định nhờ vào các xét nghiệm,PCR,cấy dịch hầu họng,phế quản,giải phẫu nhiên có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng ho,khò khè kéo dài trên 1 tuần ,điều trị kháng sinh hay các phương phap khac không tiến triển ,kèm theo các dấu hiệu gan,lách to,vàng da có thể nên điều trị theo hướng CMV và làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại. Bệnh viện cung cấp dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp, không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét thêm Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm phổi Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Viêm phổi Cytomegalovirus - Phần 1 Thế nào là xét nghiệm vi sinh? Ngộ độc thực phẩm do clostridium botulinum A infecção por citomegalovírus pode ser adquirida no período pré ou perinatal, sendo a infecção viral congênita mais comum. Sinais ao nascimento, se presentes, são retardo de crescimento intrauterino, prematuridade, microcefalia, icterícia, petéquia, hepatoesplenomegalia, calcificações periventriculares, coriorretinite, pneumonite hepatite e perda auditiva neurossensorial. Ainda no lactente, os sinais podem incluir pneumonia, hepatoesplenomegalia, hepatite, trombocitopenia, síndrome semelhante à sepse e linfocitose atípica. O melhor diagnóstico da infecção neonatal é feito pela detecção viral por meio de cultura ou PCR polymerase chainreaction. O tratamento é principalmente de suporte. Ganciclovir parenteral ou valganciclovir oral podem prevenir a deterioração auditiva e melhorar os desfechos de desenvolvimento e é administrado para recém-nascidos com doença sintomática identificada no período citomegalovírus CMV é frequentemente isolado em neonatos. Embora a maioria dos lactentes que albergam o vírus seja assintomática, outros apresentam doenças com risco de vida e sequelas devastadoras a longo se sabe quando uma mulher portadora de CMV primário pode dar à luz com segurança. Como é difícil avaliar o risco a que o feto está submetido, mulheres que desenvolvem CMV primário durante a gestação devem ser alertadas, embora alguns especialistas prefiram recomendar exames sorológicos de rotina para CMV antes e durante a gestação em mulheres saudáveis. Infecção congênita por CMV ocorre em 0,2 a 1% dos nascidos vivos no mundo todo, resultado da aquisição transplacentária de infecção materna primária ou recorrente. No neonato, a doença aparente clinicamente ocorre com maior probabilidade após exposição materna primária, principalmente na primeira metade da gestação. Em alguns grupos de posição socioeconômica mais elevada nos EUA, cerca de 50% das mulheres jovens não têm anticorpos anti-CMV, tornando-as suscetíveis a infecção perinatal por CMV é adquirida por exposição de secreções infectadas do canal de parto, leite do peito ou sangue. Admite-se que os anticorpos maternos sejam protetores, e a maioria dos recém-nascidos de termo expostos é assintomática ou não infectada. Por outro lado, os pré-termos Prematuros Considera-se o bebê nascido antes de 37 semanas de gestação prematuro. Define-se a prematuridade pela idade gestacional em que os lactentes nascem. Anteriormente, qualquer recém-nascido pesando... leia mais que não apresentam anticorpos anti-CMV podem desenvolver infecções graves ou morrer, particularmente quando recebem transfusão de sangue com CMV positivo. Esforços devem ser envidados para que a transfusão de sangue ou derivados seja CMV-negativa ou que seja utilizado sangue que tenha sido filtrado para remoção de leucócitos, que contêm CMV. Esse sangue leucorreduzido é considerado por muitos especialistas como sendo seguro contra CMV. Sinais e sintomas da infecção congênita e perinatal por CMV Cerca de 10% dos lactentes com CMV congênito são sintomáticos ao nascimento. As manifestações incluem Restrição do crescimento intrauterinoPetéquiasHepatoesplenomegaliaCalcificações periventricularesCoriorretiniteHepatitePneumoniteLactentes com a forma adquirida de CMV durante oi após o nascimento, especialmente se forem prematuros, podem apresentar síndrome semelhante a sepse, pneumonia, hepatoesplenomegalia que pode levar à insuficiência hepática, hepatite, trombocitopenia, linfocitose atípica. Entretanto, se a transmissão é através do leite materno, o risco de doença grave sintomática e sequelas a longo prazo é baixo. Cultura viral de urina, saliva ou tecidoPCR polymerase chainreaction de urina, saliva, sangue ou tecido Hemograma completo com contagem diferencial e testes hepáticos, embora não sejam específicos, podem ser úteis. Devem-se solicitar também ultrassonografia ou TC do crânio e avaliação oftalmológica. Calcificações periventriculares são comuns na de audição devem ser realizados rotineiramente no nascimento em todos os neonatos infectados e monitoramento atento contínuo é exigido porque a perda da audição pode se desenvolver após o período neonatal e ser progressiva. Os neonatos sintomáticos apresentam taxa de mortalidade de até 30%, e 40 a 90% dos que sobrevivem apresentam algumas disfunções neurológicas, incluindo Distúrbios visuaisAlém disso, 5 a 15% dos neonatos assintomáticos eventualmente desenvolvem sequelas neurológicas; perda auditiva é a mais comum. Ganciclovir ou valganciclovir para recém-nascidos sintomáticos 1. Kimberlin DW, Jester PM, Sánchez PJ, et al Valganciclovir for symptomatic congenital cytomegalovirus disease. N Engl J Med 37210933–943, 2015. doi A gestante não imunizada deve estar atenta para não se expor ao vírus. Por exemplo, como a infecção por CMV é comum entre as crianças que são atendidas em creches, a gestante deve sempre lavar as mãos cuidadosamente após exposição a urina ou secreções respiratórias ou orais das doença por CMV perinatal associada às transfusões pode ser evitada se os neonatos pré-termos receberem hemoderivados de doadores CMV-soronegativos ou produtos leucorreduzidos. 1. Revello MG, Lazzarotto T, Guerra B, et al A randomized trial of hyperimmune globulin to prevent congenital cytomegalovirus. N Engl J Med 370141316–1326, 2014. doi Hughes BL, Clifton RG, Rouse DJ, et al A trial of hyperimmune globulin to prevent congenital cytomegalovirus infection. N Engl J Med 3855436–444, 2021. doi Cytomegalovirus CMV é a infecção viral congênita mais comum e pode ser assintomática ou órgãos podem ser afetados, e risco de nascimentos prematuros infecção congênita por CMV sintomática de outras infecções congênitas p. ex., toxoplasmose, rubéola, vírus da coriomeningite linfocítica, sífilis usando PCR polymerase chainreaction ou cultura IV ou valganciclovir oral podem ajudar a prevenir a perda auditiva e atraso no desenvolvimento em crianças com infecção sintomática. Visão Educação para o paciente

nhiễm cmv trẻ em